Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013

Tác động từ việc hạ lãi suất của ECB


NDĐT- Ngày 2-5 Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định hạ lãi suất từ 0,75% xuống mức thấp kỷ lục 0,5%. Đây là lần đầu tiên kể từ tháng 7 năm ngoái ECB hạ lãi suất nhằm ngăn chặn nguy cơ lún sâu hơn vào suy thoái của các nền kinh tế khu vực Eurozone.

Chặn đà suy thoái
Đúng như kỳ vọng của phần lớn người dân châu Âu và các nhà kinh tế, cuối cùng ECB cũng đã đưa ra quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản lần đầu tiên trong 10 tháng, xuống 0,5% trong cuộc họp ngày 2-5 diễn ra tại Bratislava, Thủ đô của Slovakia.
Chủ tịch ECB Mario Draghi hồi tháng trước tuyên bố sẵn sàng hành động nếu triển vọng kinh tế châu Âu xấu đi, niềm tin kinh tế suy giảm, thất nghiệp tăng, lạm phát giảm và việc hạ lãi suất lần này không nằm ngoài kế hoạch đã định.
Chính sách cắt giảm lãi suất nhằm hai mục tiêu: vực dậy nền kinh tế và hạn chế tình trạng giảm phát. Đồng euro giảm giá sẽ giúp cho giá hàng hóa của các nước Eurozone rẻ hơn ở nước ngoài, qua đó thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.
Quyết định hạ lãi suất của ECB đưa ra sau khi số liệu công bố cho thấy, chỉ số quản lý thu mua (PMI) sản xuất của Eurozone giảm từ 46,8 xuống 46,7 điểm trong tháng 4 so với dự báo 46,5 điểm và là mức thấp nhất 4 tháng qua, kinh tế Eurozone đang chìm sâu hơn vào suy thoái.
Chỉ số niềm tin kinh tế do Ủy ban châu Âu (EC) đưa ra cũng xuống thấp nhất kể từ tháng 12-2012, điều này cho thấy các chủ doanh nghiệp và người tiêu dùng vẫn hoài nghi về khả năng phục hồi trong năm nay của Eurozone.
Số liệu kinh tế cũng đã củng cố cho quyết định nới lỏng tiền tệ của ECB, với tỷ lệ thất nghiệp của Eurozone tháng 3 lên mức kỷ lục 12,1%, trong khi sản xuất tháng 4 suy giảm 21 tháng liên tiếp, lạm phát giảm mạnh nhất trong hơn bốn năm, xuống 1,2%.
Giới phân tích cho rằng, quyết định vừa qua của ECB là hợp lý nhưng cần sự dũng cảm hơn nữa mới mong giải quyết những vấn đề sâu xa dẫn đến khủng hoảng kinh tế tại châu Âu, và một trong các căn nguyên ấy chính là sự chênh lệch trong phát triển kinh tế giữa hai khu vực Nam Âu và Bắc Âu.
Phản ứng của thị trường
Thị trường đã tăng điểm ngay sau khi các nhà hoạch định chính sách châu Âu thông báo hạ lãi suất cơ bản và Chủ tịch ECB ông Mario Draghi khẳng định sẵn sàng điều chỉnh chính sách khi cần thiết và tiếp tục cho các ngân hàng vay với mức nhiều nhất có thể cho đến tháng 6-2014.
Thị trường chứng khoán Mỹ cũng tăng điểm sau khi ECB công bố hạ lãi suất và số đơn xin trợ cấp thất nghiệp của Mỹ bất ngờ giảm. Kết thúc phiên ngày 2-5, chỉ số S&P 500 tăng 0,9%, lên 1.597,59 điểm và lập kỷ lục mới.
Chỉ số Dow Jones tăng 0,9%, lên 14.831,58 điểm. Tổng khối lượng giao dịch đạt khoảng 6 tỷ cổ phiếu, thấp hơn 4,7% so với mức trung bình ba tháng. Chín trong số 10 nhóm của chỉ số S&P 500 tăng điểm với các nhóm công nghệ, năng lượng và công nghiệp tăng điểm mạnh nhất.
Chỉ số Morgan Stanley Cyclical Index gồm các công ty có giá cổ phiếu nhạy cảm nhất với diễn biến của nền kinh tế tăng 0,9%. Chỉ số Dow Jones Transportation Average (gồm các công ty vận tải) tăng 1% trong khi chỉ số gồm các công ty xây dựng nhà ở trong chỉ số S&P tăng 3,5%.
Sự phản đối từ Đức
Thủ tướng Đức Angela Merkel cho rằng: “Theo ý kiến của riêng Đức, ECB sẽ phải tăng lãi suất”. Với lãi suất thấp, Đức sẽ phải đối mặt với tình trạng giá nhà tăng cao tại một số thành phố lớn.
Ngay sau khi ECB quyết định hạ lãi suất cơ bản xuống mức thấp kỷ lục, đồng euro đã tăng lên 1,3191 USD/EUR trong khi lãi suất trái phiếu 10 năm của Đức tăng, cho thấy nguy cơ ảnh hưởng xấu của chính sách này đối với nền kinh tế Đức.
Tại Đức, các công ty bảo hiểm, quỹ tiết kiệm và khu vực ngân hàng hợp tác cũng lên tiếng chống lại chính sách tiền tệ nới lỏng của ECB. Bởi theo họ, biện pháp này sẽ mang lại ít hiệu quả kinh tế và làm giảm tỷ lệ tiết kiệm, một yếu tố quan trọng giúp đối phó với tình trạng già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng tại Đức.
Còn ông Nick Kounis, trưởng bộ phận nghiên cứu vĩ mô tại ABN Amro ở Hà Lan lại cho biết, hạ lãi suất sẽ không ảnh hưởng đáng kể đến lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn, tuy nhiên sẽ giúp giảm chi phí cấp vốn cho các ngân hàng.
Ý kiến của các chuyên gia
Chuyên gia kinh tế Anders Svendsen thuộc Tập đoàn dịch vụ tài chính Nordea nói: “ECB đang tiến hành một biện pháp an toàn, mặc dù biết trước hiệu quả có thể sẽ rất hạn chế”.
Theo ông, cách tốt hơn ECB nên thực hiện là hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn, thay vì cắt giảm lãi suất cơ bản. Nói cách khác, ECB nên tập trung vào nơi vấn đề đang xảy ra, hơn là dàn trải ra tất cả vì rõ ràng khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn nhất.
Một số bộ phận của ngành ngân hàng cũng không mấy lạc quan. Trong bối cảnh nhiều ngân hàng ở châu Âu đang phải chấp nhận hoạt động mà không thu được lợi nhuận, lãi suất tiền gửi được giữ gần 0%, lãi suất cơ bản giảm khiến lợi nhuận trên tài sản thế chấp cũng sụt giảm theo.
Mặt khác, sự chênh lệch lãi suất giữa Nam Âu và Bắc Âu vẫn không được giải quyết. Một quyết định cắt giảm chung không thay đổi được chi phí vay vốn cao ở Nam Âu (rủi ro tín dụng cao) và chi phí vay vốn thấp hơn ở Bắc Âu. ECB chỉ nên hỗ trợ nơi cần, chứ không phải tất cả.
Do vậy mục tiêu khơi thông dòng tín dụng tại các nước Nam Âu như Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Bồ Đào Nha… khó có thể đạt được. Áp lực giá cả giảm đột ngột cũng mang đến khả năng ECB sẽ phải sử dụng thêm các công cụ tài chính khác bên cạnh lãi suất để đối phó với tình trạng giảm phát.
Ông Andrew Bosomworth tại PIMCO, quỹ trái phiếu lớn nhất thế giới nhận định: “Cuối cùng, chúng tôi cho rằng ECB sẽ phải mua tài sản khu vực tư nhân để tăng cường cơ chế truyền tải cho chính sách tiền tệ nới lỏng mới”.
Như vậy, ECB lại một lần nữa mạnh tay trong việc giảm lãi suất cơ bản để chặn đà suy thoái ngày càng sâu của Eurozone. Tuy nhiên, sự phản ứng trái chiều của thị trường và giới chuyên gia tài chính quốc tế cho thấy hiệu quả của giải pháp cắt giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục của ECB vẫn khó đoán định.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét